Kỹ thuật ghi điện cơ và tốc độ dẫn truyền thần kinh

ThS. Nguyễn Thị Thanh Bình

1. Điện cơ là gì?

Ghi điện cơ (electromyography) và đo tốc độ dẫn truyền thần kinh (nerve conduction studies) là phương pháp thăm dò được sử dụng để nghiên cứu phản ứng điện của thần kinh và cơ, đánh giá sự mất phân bố thần kinh của cơ. Phương pháp này giúp đánh giá chức năng của các dây, rễ thần kinh ngoại vi, khớp thần kinh-cơ và các cơ. Chúng là các kỹ thuật bổ trợ rất quan trọng để chẩn đoán xác định, chẩn đoán phân biệt bản chất tổn thương (tế bào thần kinh vận động, myelin, sợi trục hay tổn thương phối hợp), chẩn đoán định khu và tiên lượng bệnh, từ đó giúp các nhà lâm sàng hướng đến nguyên nhân của bệnh và điều trị có hiệu quả.

2. Chỉ định đo điện cơ?

Điện cơ được chỉ định khi bệnh nhân có những dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn thần kinh hay cơ. Ví dụ:

-Cảm giác châm chích ở da

-Cảm giác tê cứng

-Yếu cơ

-Đau cơ hay chuột rút

-Một số kiểu đau ở tay hay chân

Kết quả điện cơ thường cần thiết để xác định chẩn đoán hoặc loại trừ một số bệnh như:

-Các bệnh lý cơ: loạn dưỡng cơ hoặc viêm đa cơ

-Các bệnh ảnh hưởng đến nơi tiếp nối thần kinh cơ như bệnh nhược cơ

-Các rối loạn thần kinh ngoài tủy sống (thần kinh ngoại biên) như hội chứng ống cổ tay hoặc bệnh thần kinh ngoại biên

-Các rối loạn ảnh hưởng đến tế bào thần kinh vận động của tủy sống như xơ cột bên teo cơ hoặc viêm tủy xám (polio)

-Các rối loạn của rễ thần kinh trong bệnh thoát vị đĩa đệm

3. Các bước chuẩn bị khi đo điện cơ

* Lưu ý:

Cần kiểm tra bệnh nhân xem:

-Có máy điều hòa nhịp tim hay bất kỳ dụng cụ điện nào khác trong người

-Đang điều trị thiếu máu

-Có chứng máu khó đông hay rối loạn đông máu gây chảy máu kéo dài

* Chuẩn bị trước khi đo điện cơ:

- Vệ sinh tay chân bệnh nhân sạch sẽ trước khi tiến hành đo điện cơ

- Giải thích cho bệnh nhân các bước tiến hành, hướng dẫn bệnh nhân phối hợp trong quá trình đo điện cơ.

- Đối với trẻ em, cần chuẩn bị tâm lý trước cho trẻ tùy theo lứa tuổi, thái độ và kinh nghiệm của trẻ.

4. Quy trình ghi điện cơ đồ và đo tốc độ dẫn truyền thần kinh

4.1. Ghi điện cơ đồ bằng điện cực kim

- Người bệnh ở tư thế thư giãn cơ.

- Sát trùng vùng da cần khảo sát cơ bằng điện cực kim.

- Cắm điện cực kim xuyên qua da vào cơ, rồi đâm kim từng nấc một nhằm khảo sát các hoạt động điện do kim đâm gây ra.

- Để kim nằm im trong khi bắp cơ đang thư giãn hoàn toàn (không co cơ), nhằm tìm các hoạt động điện tự phát của cơ đó nếu có.

- Hướng dẫn người bệnh co cơ một cách nhẹ nhàng và để các đơn vị vận động phát xung rời rạc, khảo sát hình ảnh của từng điện thế của đơn vị vận động.

- Yêu cầu người bệnh co cơ mạnh dần lên để khảo sát hiện tượng kết tập của các đơn vị vận động, cho tới mức người bệnh co cơ tối đa để xem hình ảnh giao thoa của các đơn vị vận động. Chú ý khi ghi quan sát các sóng ghi được trên màn hình cần nghe cả âm thanh các sóng phát ra.

- Đánh giá kết quả: Những thay đổi do thần kinh (neurogen) là quá trình tái phân bố thần kinh và được biểu hiện dưới 2 dạng: tái phân bố sợi trục biểu hiện là đa pha, thời khoảng rộng, biên độ cao. Thay đổi neurogen thường gặp trong các bệnh thần kinh gây tổn thương cơ. Khi co cơ tăng dần tới cực đại: nguyên tắc cỡ mẫu bị phá vỡ, các đơn vị vận động lớn hơn xuất hiện sớm, có hiện tượng tăng tốc, có khoảng trống điện cơ. Những thay đổi do bệnh cơ có các đơn vị vận dộng giảm về biên độ, thời khoảng ngắn, đa pha (hẹp, thấp và đa pha).

4.2. Đo tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động và cảm giác

* Đo tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động

- Điện cực bề mặt đặt tại vị trí khối cơ có dây thần kinh thăm dò chi phối (Thần kinh giữa, trụ, hông khoeo trong và ngoài hai bên).

- Kích thích: Các xung vuông 0,5 – 1 miligiây kích thích vào các điểm dọc theo đường đi của dây thần kinh.

Tính tốc độ dẫn truyền: Nếu gọi L1 là thời gian tiềm tàng (tính từ lúc kích thích đến khi xuất hiện đáp ứng co cơ ở phần ngọn dây thần kinh), gọi L2 là thời gian tiềm tàng khi kích thích phần gốc dây thần kinh (tính bằng miligiây - ms), D là khoảng cách giữa hai điểm kích thích (milimét - mm), tốc độ dẫn truyền thần kinh (V) (mét/giây – m/s) giữa hai điểm kích thích sẽ được tính theo công thức:

- Biên độ được tính từ điểm thấp nhất cho đến điểm cao nhất của điện thế cảm giác, tính bằng miliVolt (ms).

* Đo tốc độ dẫn truyền thần kinh cảm giác

- Kích thích: Các xung vuông 0,5 – 1ms kích thích tại một điểm dọc theo đường đi của dây thần kinh cảm giác ngoại vi (dây thần kinh giữa, trụ và hiển ngoài hai bên).

- Ghi: Điện cực bề mặt ghi đáp ứng trên đường đi của dây thần kinh định thăm dò. Thời gian tiềm tàng cảm giác chính là thời gian dẫn truyền cảm giác của chính dây thần kinh đó (do không có các khớp thần kinh ngăn cách giữa các cơ quan thụ cảm và sợi cảm giác)

- Tính tốc độ dẫn truyền thần kinh: Gọi thời gian tiềm tàng cảm giác là t (tính bằng giây –s), khoảng cách từ điện cực ghi tới điện cực kích thích là d (tính bằng mm), tốc độ dẫn truyền cảm giác v được tính theo công thức:    v = d/t

- Biên độ được tính từ điểm thấp nhất cho đến điểm cao nhất của điện thế cảm giác, tính bằng microVolt (μV).

Sơ đồ nguyên tắc ghi điện thế cảm giác

* Nhận định kết quả:

- Giảm tốc độ dẫn truyền và kéo dài thời kỳ tiềm tàng phản ánh tổn thương myêlin.

- Giảm biên độ các đáp ứng thể hiện tổn thương sợi trục.

5. Sau khi đo điện cơ: có thể (ít khi) có vết bầm nhỏ chỗ châm kim, những vết này sẽ mờ dần sau vài ngày.

6. Một số kỹ thuật đo điện cơ hiện đang được áp dụng tại bệnh viện Lão khoa Trung Ương

  • Đo dẫn truyền thần kinh và điện cơ kim thường quy (khảo sát bệnh của dây thần kinh và bệnh của cơ, bệnh của tế bào thần kinh vận động)
  • Test nhược cơ (khảo sát bệnh nhược cơ)
  • Phản xạ Blink (liệt dây VII ngoại biên), phản xạ H (đánh giá rễ S1)
  • Sóng F (đánh giá tổn thương rễ thần kinh).