Kiểm soát huyết áp tích cực so với thường quy và kết cục tim mạch

KIỂM SOÁT HUYẾT ÁP TÍCH CỰC SO VỚI THƯỜNG QUY VÀ KẾT CỤC BỆNH LÝ TIM MẠCH Ở CÁC BỆNH NHÂN CAO TUỔI TRÊN 75 TUỔI: MỘT THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG NGẪU NHIÊN

Jeff D Williamson, Mark A Supiano, William B Applegate, Dan R Berlowitz, Ruth C Campbell, Glenn M Chertow, Larry J Fine, William E Haley, Amret T Hawfield, Joachim H Ix, Dalane W Kitzman, John B Kostis, Marie A Krousel-Wood, Lenore J Launer, Suzanne Oparil, Carlos J Rodriguez, Christianne L Roumie, Ronald I Shorr, Kaycee M Sink, Virginia G Wadley, Paul K Whelton, Jeffrey Whittle, Nancy F Woolard, Jackson T Wright, Nicholas M Pajewski

TÓM TẮT:

Tầm quan trọng: Mục tiêu điều trị phù hợp đối với chỉ số huyết áp tâm thu (systolic blood pressure – SBP) ở bệnh nhân lớn tuổi có tăng huyết áp còn chưa rõ ràng.

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của điều trị tích cực (SBP < 120mmHg) so với điều trị thường quy (SBP <140mmHg) ở những bệnh nhân trên 75 tuổi có tăng huyết áp mà không kèm theo đái tháo đường.

Thiết kế, các cơ sở và đối tượng tham gia nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, đa trung tâm trên đối tượng các bệnh nhân ≥ 75 tuổi tham gia vào thử nghiệm can thiệp tăng huyết áp tâm thu (Systolic Blood Pressure Intervention Trial – SPRINT). Tuyển bệnh bắt đầu vào ngày 20 tháng 10 năm 2010, theo dõi và kết thúc vào ngày 20 tháng 8 năm 2015.

Can thiệp: Các bệnh nhân tham gia được phân ngẫu nhiên vào nhóm điều trị với SBP mục tiêu < 120mmHg (nhóm điều trị tích cực, n=1317) hoặc nhóm điều trị với SBP mục tiêu < 140mmHg (nhóm điều trị thường quy, n=1319).

Kết cục chính và tiêu chuẩn đánh giá: Biến nghiên cứu chính là các bệnh lý tim mạch bao gồm nhồi máu cơ tim không tử vong, hội chứng mạch vành cấp không dẫn đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ không tử vong, suy tim mất bù cấp không tử vong, và tử vong do các nguyên nhân tim mạch. Tử vong do mọi nguyên nhân là biến nghiên cứu phụ.

Kết quả: Trong số 2636 bệnh nhân tham gia (tuổi trung bình 79.9 tuổi, 37.9% là nữ giới), 2510 (95.2%) hoàn tất quá trình theo dõi. Với thời gian theo dõi trung bình 3.14 năm, tỷ lệ các bệnh lý trong biến nghiên cứu chính thấp hơn đáng kể (102 biến cố ở nhóm điều trị tích cực so với 148 biến cố ở nhóm điều trị thường quy, tỷ số nguy cơ (hazard ratio – HR 0.66 [95% CI, 0.51-0.85]) và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân cũng vậy (73 tử vong so với 107 tử vong, tương ứng; HR 0.67 [95% CI, 0.49-0.91]. Tỷ lệ toàn bộ các biến cố nghiêm trọng không có sự khác nhau giữa các nhóm điều trị (48.4% ở nhóm điều trị tích cực so với 48.3% ở nhóm điều trị thường quy; HR 0.99 [95% CI, 0.89-1.11]. Tỷ lệ tuyệt đối của tụt huyết áp là 2.4% ở nhóm điều trị tích cực và 1.4% ở nhóm điều trị thường quy (HR 1.71 [95% CI, 0.97-3.09], 3.0% với 2.4%, tương ứng, đối với triệu chứng ngất (HR 1.23 [95% CI, 0.76-2.00]), 4.0% so với 2.7%, tương ứng đối với các rối loạn điện giải (HR 1.51 [95% CI, 0.99-2.33]), 5.5% với 4.0% đối với các tổn thương thận cấp tính (HR 1.41 [95% CI, 0.98-2.04]), và 4.9% với 5.5% đối với các tình trạng ngã có chấn thương (HR 0.91 [95% CI, 0.65-1.29]).

Kết luận: Trong số các bệnh nhân ≥ 75 tuổi ngoại trú, điều trị tăng huyết áp với mục tiêu SBP < 120mmHg so với mục tiêu SBP < 140mmHg làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ các biến cố tim mạch nặng gây tử vong và không gây tử vong cũng như tỷ lệ tử vong do bất kỳ nguyên nhân nào.

Nguồn: JAMA: the Journal of the American Medical Association 2016 June 28, 315 (24): 2673-82

Biên dịch: BS. Lê Thị Thu Trang

Hiệu đính: BS. Trần Viết Lực

Intensive vs Standard Blood Pressure Control and Cardiovascular Disease Outcomes in Adults Aged ≥75 Years: A Randomized Clinical Trial

IMPORTANCE: The appropriate treatment target for systolic blood pressure (SBP) in older patients with hypertension remains uncertain.

OBJECTIVE: To evaluate the effects of intensive (<120 mm Hg) compared with standard (<140 mm Hg) SBP targets in persons aged 75 years or older with hypertension but without diabetes.

DESIGN, SETTING, AND PARTICIPANTS: A multicenter, randomized clinical trial of patients aged 75 years or older who participated in the Systolic Blood Pressure Intervention Trial (SPRINT). Recruitment began on October 20, 2010, and follow-up ended on August 20, 2015.

INTERVENTIONS: Participants were randomized to an SBP target of less than 120 mm Hg (intensive treatment group, n = 1317) or an SBP target of less than 140 mm Hg (standard treatment group, n = 1319).

MAIN OUTCOMES AND MEASURES: The primary cardiovascular disease outcome was a composite of nonfatal myocardial infarction, acute coronary syndrome not resulting in a myocardial infarction, nonfatal stroke, nonfatal acute decompensated heart failure, and death from cardiovascular causes. All-cause mortality was a secondary outcome.

RESULTS: Among 2636 participants (mean age, 79.9 years; 37.9% women), 2510 (95.2%) provided complete follow-up data. At a median follow-up of 3.14 years, there was a significantly lower rate of the primary composite outcome (102 events in the intensive treatment group vs 148 events in the standard treatment group; hazard ratio [HR], 0.66 [95% CI, 0.51-0.85]) and all-cause mortality (73 deaths vs 107 deaths, respectively; HR, 0.67 [95% CI, 0.49-0.91]). The overall rate of serious adverse events was not different between treatment groups (48.4% in the intensive treatment group vs 48.3% in the standard treatment group; HR, 0.99 [95% CI, 0.89-1.11]). Absolute rates of hypotension were 2.4% in the intensive treatment group vs 1.4% in the standard treatment group (HR, 1.71 [95% CI, 0.97-3.09]), 3.0% vs 2.4%, respectively, for syncope (HR, 1.23 [95% CI, 0.76-2.00]), 4.0% vs 2.7% for electrolyte abnormalities (HR, 1.51 [95% CI, 0.99-2.33]), 5.5% vs 4.0% for acute kidney injury (HR, 1.41 [95% CI, 0.98-2.04]), and 4.9% vs 5.5% for injurious falls (HR, 0.91 [95% CI, 0.65-1.29]).

CONCLUSIONS AND RELEVANCE: Among ambulatory adults aged 75 years or older, treating to an SBP target of less than 120 mm Hg compared with an SBP target of less than 140 mm Hg resulted in significantly lower rates of fatal and nonfatal major cardiovascular events and death from any cause.